Báo cáo tình hình tài chính là tên gọi mới của Bảng cân đối kế toán trong chế độ kế toán doanh nghiệp theo Thông tư 99/2025/TT-BTC (Mẫu B 01 - DN). Báo cáo này vẫn cho biết doanh nghiệp có gì (tài sản), nợ ai (nợ phải trả) và chủ sở hữu góp, tích lũy bao nhiêu (vốn chủ sở hữu) tại một thời điểm. Bài viết giải thích bộ báo cáo tài chính mới, các nguyên tắc trình bày quan trọng và cách chủ doanh nghiệp đọc nhanh báo cáo này.

Mẫu mới áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau 01/01/2026. Với doanh nghiệp có năm tài chính trùng năm dương lịch, báo cáo năm 2026 lập vào đầu năm 2027 là bộ đầu tiên dùng mẫu mới.

1. Vì sao đổi tên “Bảng cân đối kế toán”?

Người làm việc ghi chép số liệu trên bàn có máy tính và giấy tờ
Người làm việc ghi chép số liệu trên bàn có máy tính và giấy tờ

Luật số 56/2024/QH15 đã sửa khoản 1 Điều 29 Luật Kế toán, quy định báo cáo tài chính của đơn vị kế toán gồm: Báo cáo tình hình tài chính; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính và báo cáo khác theo pháp luật. Thông tư 99 dùng tên gọi thống nhất với luật.

Tên mới phản ánh đúng hơn mục đích báo cáo: trình bày tình hình tài chính, không chỉ là việc “cân đối” hai bên số liệu. Tên gọi này cũng gần với thuật ngữ quốc tế “statement of financial position”. Luật Kế toán sau sửa đổi còn định nghĩa báo cáo tài chính phải được lập và trình bày đúng chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán (khoản 1 Điều 3).

2. Bộ báo cáo tài chính năm theo Thông tư 99

Máy tính màu xanh dương cùng giấy nhớ và bút trên nền sáng
Máy tính màu xanh dương cùng giấy nhớ và bút trên nền sáng

Điều 17 Thông tư 99 quy định hai bộ báo cáo năm:

Báo cáoDoanh nghiệp hoạt động liên tụcDoanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục
Báo cáo tình hình tài chínhMẫu B 01 - DNMẫu B 01 - DNKLT
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhMẫu B 02 - DNMẫu B 02 - DNKLT
Báo cáo lưu chuyển tiền tệMẫu B 03 - DNMẫu B 03 - DNKLT
Bản thuyết minh báo cáo tài chínhMẫu B 09 - DNMẫu B 09 - DNKLT

Báo cáo giữa niên độ có dạng đầy đủ (B 01a, B 02a, B 03a, B 09a - DN) và dạng tóm lược (B 01b, B 02b, B 03b, B 09a - DN). Theo Điều 16, mọi doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính năm dạng đầy đủ theo Phụ lục IV.

Những chỉ tiêu không có số liệu được miễn trình bày. Doanh nghiệp được đánh lại số thứ tự chỉ tiêu nhưng không được đánh lại “Mã số” chỉ tiêu (khoản 4 Điều 17).

3. Nguyên tắc trình bày: ngắn hạn, dài hạn và thanh khoản

Cận cảnh trang sổ kế toán kẻ ô với các cột số liệu viết tay
Cận cảnh trang sổ kế toán kẻ ô với các cột số liệu viết tay

Khoản 4 Điều 20 Thông tư 99 quy định tài sản và nợ phải trả trên Báo cáo tình hình tài chính phải trình bày thành ngắn hạn và dài hạn, các chỉ tiêu sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần.

Tài sản ngắn hạn

Một tài sản là ngắn hạn khi thuộc một trong các trường hợp: dự kiến thu hồi, bán hoặc sử dụng trong một chu kỳ kinh doanh thông thường; nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại; dự kiến thu hồi trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán; là tiền hoặc tương đương tiền không bị hạn chế sử dụng. Tài sản còn lại là dài hạn.

Nợ phải trả ngắn hạn

Nợ phải trả là ngắn hạn khi dự kiến thanh toán trong một chu kỳ kinh doanh thông thường, nắm giữ chủ yếu vì mục đích kinh doanh, đến hạn trong 12 tháng, hoặc doanh nghiệp không có quyền từ chối thanh toán trong 12 tháng.

Điểm đáng chú ý: các khoản phải trả là một phần vốn lưu động (phải trả nhà cung cấp, phải trả người lao động…) được xếp ngắn hạn ngay cả khi thời hạn thanh toán trên 12 tháng. Chu kỳ kinh doanh không xác định rõ được coi là 12 tháng.

Tái phân loại và bù trừ

  • Khi lập báo cáo, khoản dài hạn kỳ trước nay còn dưới 12 tháng phải tái phân loại sang ngắn hạn.
  • Gia hạn nợ sau ngày kết thúc kỳ kế toán là sự kiện không cần điều chỉnh, nhưng phải thuyết minh.
  • Tài sản và nợ phải trả phải trình bày riêng. Chỉ được bù trừ khi cùng đối tượng, vòng quay nhanh, đáo hạn ngắn, phát sinh từ giao dịch cùng loại (khoản 5 Điều 20).

4. Yêu cầu chất lượng thông tin trên báo cáo

Máy tính phím đỏ đặt trên bàn với báo cáo số liệu phía sau
Máy tính phím đỏ đặt trên bàn với báo cáo số liệu phía sau

Điều 19 Thông tư 99 yêu cầu thông tin trên báo cáo tài chính phải trung thực, hợp lý, đầy đủ, khách quan và không có sai sót. Thông tư giải thích rõ:

  • Đầy đủ: người đọc hiểu được bản chất, hình thức và rủi ro của giao dịch.
  • Khách quan: không thiên vị, không làm thay đổi mức ảnh hưởng theo hướng có lợi hoặc bất lợi.
  • Trọng yếu: thông tin mà việc bỏ sót có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo thì phải trình bày đầy đủ.
  • Nhất quán, so sánh được giữa các kỳ và giữa các doanh nghiệp; khi chuyển giữa báo cáo theo giả định hoạt động liên tục và không hoạt động liên tục, phải thuyết minh tính chất, số liệu, lý do phân loại lại số liệu so sánh.

Điều 20 nhấn mạnh nguyên tắc tôn trọng bản chất hơn hình thức: tài sản không ghi nhận cao hơn giá trị có thể thu hồi, nợ phải trả không ghi thấp hơn nghĩa vụ phải thanh toán.

5. Chủ doanh nghiệp đọc Báo cáo tình hình tài chính thế nào?

Máy tính cầm tay màu trắng cùng bút bi trên mặt bàn sáng
Máy tính cầm tay màu trắng cùng bút bi trên mặt bàn sáng
  1. Xem tổng tài sản và cơ cấu

    Tài sản ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần? Tiền mặt và phải thu có tăng bất thường so với đầu năm không?

  2. So tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn

    Nếu nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp có thể gặp áp lực trả nợ trong 12 tháng tới.

  3. Xem vốn chủ sở hữu

    Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối âm kéo dài là dấu hiệu lỗ lũy kế cần xử lý.

  4. Đọc thuyết minh đi kèm

    Thuyết minh giải thích chi tiết công nợ, hàng tồn kho, khoản vay, sự kiện sau ngày kết thúc kỳ.

Ví dụ minh họa

Ví dụ minh họa, số liệu giả định. Tại 31/12/2026, Công ty E có tài sản ngắn hạn 6 tỷ đồng, nợ ngắn hạn 4 tỷ đồng. Tỷ số thanh toán hiện hành = 6 ÷ 4 = 1,5 lần. Nghĩa là cứ 1 đồng nợ ngắn hạn có 1,5 đồng tài sản ngắn hạn để đảm bảo.

Nếu trong 6 tỷ có 3 tỷ là hàng tồn kho chậm luân chuyển, khả năng trả nợ thực tế thấp hơn con số 1,5. Tỷ số thanh toán nhanh (loại hàng tồn kho) = (6 − 3) ÷ 4 = 0,75 lần. Đây là lý do chủ doanh nghiệp nên đọc cả thuyết minh, không chỉ nhìn tổng số.

Các tỷ số trên là công cụ phân tích quản trị, không phải chỉ tiêu bắt buộc trên mẫu B 01 - DN. Ngân hàng và nhà đầu tư thường tự tính chúng từ báo cáo của doanh nghiệp. Vì vậy, việc phân loại đúng ngắn hạn, dài hạn theo Điều 20 ảnh hưởng trực tiếp đến cách bên ngoài đánh giá doanh nghiệp.

6. Những lỗi thường gặp khi lập mẫu mới

Máy tính cầm tay, bút chì và giấy nhớ vàng trên nền trơn
Máy tính cầm tay, bút chì và giấy nhớ vàng trên nền trơn
  • Năm tài chính 2026 nhưng vẫn dùng mẫu Bảng cân đối kế toán của Thông tư 200.
  • Không tái phân loại khoản vay dài hạn đến hạn trả trong 12 tháng sang nợ ngắn hạn.
  • Bù trừ phải thu và phải trả của các đối tượng khác nhau để báo cáo “gọn” hơn.
  • Tự đánh lại mã số chỉ tiêu khi bỏ các dòng không có số liệu.
  • Bổ sung chỉ tiêu riêng nhưng không thuyết minh và không ban hành Quy chế hạch toán kế toán theo Điều 18.

Kết luận

Bàn làm việc kế toán với bút, máy tính và tách cà phê nhìn từ trên
Bàn làm việc kế toán với bút, máy tính và tách cà phê nhìn từ trên

Báo cáo tình hình tài chính không phải báo cáo hoàn toàn mới, nhưng Thông tư 99 đặt ra nguyên tắc trình bày chặt hơn về ngắn hạn, dài hạn, bù trừ và bản chất giao dịch. Kế toán nên chuẩn bị mẫu B 01 - DN ngay từ quý IV/2026, còn chủ doanh nghiệp nên tập đọc báo cáo cùng phần thuyết minh.

Xem thêm 10 điểm thay đổi của Thông tư 99 và 12 sai sót hay gặp khi lập báo cáo tài chính. Nếu doanh nghiệp cần người lập hoặc soát xét báo cáo năm 2026 theo mẫu mới, TAVA có dịch vụ báo cáo tài chính cuối năm.